Srdja Popovic, người sáng lập Trung tâm Chiến lược Ứng dụng Bất bạo động (CANVAS). Ảnh: Youtube
Ngày 5/10/2000, hàng trăm ngàn người biểu tình Serbia đã đổ ra các ngã phố Belgrade, khiến lực lượng an ninh trở nên bất lực và chiếm quyền kiểm soát tòa nhà Quốc Hội, đặt dấu chấm hết chế độ độc tài của Slobodan Milosevic. Đây là hành động cuối cùng của cuộc đấu tranh bất bạo động kéo dài 2 năm, được lãnh đạo bởi phong trào thanh niên Otpor, hay còn gọi là”Phản kháng”, với biểu tượng bàn tay nắm chặt – thể hiện quyết tâm hướng tới bầu cử tự do và nền dân chủ non trẻ.
Một trong những nhà lãnh đạo của phong trào này là Srdja Popovic (27 tuổi), người đã được bầu vào Quốc hội Serbia sau khi lật đổ Milosevic. Năm 2004, Popovic rời bỏ chính trị để sáng lập ra Trung tâm Chiến lược Ứng dụng Bất bạo động (CANVAS), ở Belgrade. Đây là một tổ chức đào tạo các nhà hoạt động tại hàng chục quốc gia trên thế giới. Trong đó có những người đã làm làm nên thành công trong phong trào dân chủ tại Gruzia, Ukraina, và Maldives cho đến cuộc đấu tranh đang tiếp diễn tại Miến Điện và Iran.
Mới đây chúng tôi có dịp trò chuyện với Popovic và hỏi ông về vai trò của sự hài hước trong cuộc đấu tranh chống lại Milosevic, làm thế nào Otpor đã có thể giành chiến thắng trước các lực lượng an ninh, và cách mà phong trào tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Tại sao cuộc phản kháng Milosovic phải là bất bạo động?
Srdja Popovic (SP): Kỷ cương bất bạo động là một trong những nguyên tắc quan trọng làm nên sự thành công của cuộc đấu tranh bất bạo động. Khi bạo lực bùng phát, một phong trào sẽ giảm số lượng thành viên, tính xung kích, và sự tín nhiệm – nó đặt tổng thể mục tiêu của một cuộc đấu tranh trong tình trạng nguy hiểm. Do đó, người Serbia vốn bị quy kết là “bạo động” trong thập niên 90, cần chứng minh cho thế giới và thành viên thấy rằng, họ có khả năng thay đổi chính phủ một cách văn minh hơn, thông qua bầu cử và bảo vệ kết quả bầu cử trong sự ôn hòa.
Công trình nghiên cứu khá hay của Freedom House được công bố vào năm 2005 có tên ” Tự do chiến thắng như thế nào”, đã phân tích những thay đổi chính trị trong vòng 35 năm qua - một số bằng phương thức bạo động, số khác bằng bất bạo động. Công trình này chứng minh rằng ,những thay đổi chính trị đạt được nhờ đấu tranh bất bạo động sẽ bảo đảm nhân quyền, dân chủ và ổn định chính trị lâu dài hơn là bạo động.
Sự sáng tạo và hài hước quan trọng như thế nào trong cuộc đấu tranh làm sụp đổ Slobodan Milosevic?
SP: Nó cực kỳ quan trọng. Hài hước và châm biếm là những đặc trưng của Otpor. Những yếu tố này tạo ra một thông điệp tích cực, thu hút quần chúng, và khiến cho đối thủ - tức những quan chức lãnh cảm – trở nên thật ngu ngốc và lố bịch. Quan trọng nhất là, nó khiến mọi người không còn sợ hãi, truyền cảm hứng cho xã hội Serbia - vốn mệt mỏi, thất vọng, và thờ ơ vào cuối thập niên 1990.
Biểu tượng phong trào Dân Chủ Otpor. Ảnh: Joulupukki
Diện mạo và hình ảnh của phong trào quan trọng như thế nào đối với phong trào trong việc tránh được sự chỉ trích từ chế độ và các phương tiện truyền thông?
SP: Phía dư luận viên cho rằng “nhận thức là hiện thực”, mà cũng chẳng có gì sai. Chúng tôi biết trước cán bộ tuyên truyền cho chế độ khắc họa Otpor như “tay sai của Tây phương “ hay “những kẻ không yêu nước” và “quân phản bội”, nhưng chúng tôi đã chuẩn bị cho sự vu cáo này ngay từ đầu. Chúng tôi dùng nắm đấm vốn là biểu tượng thiên tả từ thời cộng sản đời đầu, các khẩu hiệu yêu nước và những khuôn mặt sáng lạn làm lực lượng tiên phong cho Otpor. Cũng giống như những gì Martin Luther King từng thực hiện ở Nashville. Chế độ đã phải tốn rất nhiều thời gian thuyết phục công chúng rằng chúng tôi còn xấu xa hơn cả bọn khủng bố thực sự. Nhưng khi nhìn thấy những khuôn mặt sáng lạn ấy mặc áo phông Otpor đã làm những điều họ vu cáo trở nên lố bịch và còn hại lại chính họ.
Một khi ý thức được rằng, “cảnh sát cũng chỉ là thường dân mặc sắc phục” thì nhận thức của bạn sẽ thay đổi và sẽ thuyết phục được họ.
SP: Điều cốt lõi cho các phong trào bất bạo động là phải kéo được nhóm người ra khỏi các trụ cột quyền lực ví dụ như cảnh sát và quân đội, thay vì đẩy họ lại với nhau hay tỏ ra đe dọa và hiếu chiến. Otpor học được bài học này từ các cuộc biểu tình của sinh viên vào năm 1996 và 1997 và từ Gandhi nữa. Thế nên ngay từ đầu, chúng tôi đã hành xử thân thiết với cảnh sát và quân đội, như mang hoa và bánh ngọt đến cho họ, thay vì la hét hay ném đá. Mô hình này đạt hiệu quả trên khắp thế giới như tại Georgia và Ukraine. Một khi ta hiểu rằng ”cảnh sát chỉ là thường dân mặc sắc phục” thì nhận thức của ta cũng thay đổi và sẽ thuyết phục được họ.
Cấu trúc lãnh đạo của Otpor khác gì với các phong trào bất bạo động khác?
SP: Đó là ”lãnh đạo tập thể” với cấu trúc theo kiểu chiến dịch “chính trị /bầu cử” giúp đạt hiệu quả cao trong thực hiện các quyết định. Ngoài ra thì việc phân quyền tạo ra nhiều lớp lãnh đạo. Do đó, nếu 10 đến 15 người lãnh đạo cao nhất bị bắt, thì guồng máy không vì thế mà ngừng hoạt động. Điều này tạo cơ hội cho các thành viên non trẻ có thể bày tỏ ý kiến với tư cách “ lãnh đạo của Otpor”.
Việc NATO ném bom Serbia có khiến cho Milosevich suy yếu và làm cho phong trào bất bạo động kiên cường hơn?
SP: Khi đất nước bị tấn công, tất yếu sẽ khiến người dân sẽ đứng về phía lãnh đạo. Tương tự, khi NATO ném bom Serbia trong năm 1999 đã càng làm Milosevich mạnh thêm. Hay như, số lượng người ủng hộ George W. Bush đạt mức cao nhất ngay sau vụ 11 tháng 9. Cho nên bất cứ ai trong chính quyền Hoa Kỳ cho rằng ném bom Serbia sẽ làm Milosevich suy yếu là hoàn toàn sai lầm. Việc ném bom chỉ làm tổn thương quốc gia và thường dân. Thậm chí tệ hơn, Milosevic còn lợi dụng nó để tấn công và tiêu diệt các nhóm đối lập còn sót lại sau khi thiết quân luật được ban hành. Nổi bật trong số đó là phóng viên và biên tập viên Slavko Curuvija đã bị giết chết trước cửa nhà mình sau khi bị cáo buộc "hợp tác với những người đánh bom Serbia." Phe đối lập chính trị gia Zoran Djindjic và hầu hết các lãnh đạo Otpor đã trốn khỏi đất nước vì bị đe dọa tính mạng bởi mật vụ. Bài học ở đây là "dân chủ không đến từ nóc xe tăng."
Sự ủng hộ của Mỹ đóng vai trò ra sao với sự thành công của phong trào Otpor và ông có lời khuyên gì cho các tổ chức bất bạo động khác nhận tài trợ từ chính quyền Mỹ hay từ các cơ quan chính phủ?
SP: Vai trò của Phương Tây ở Balkans gồm mặt sáng và tối, và tôi nghĩ cần rạch ròi hai mặt này. Đúng là Mỹ và Liên minh châu Âu đã hỗ trợ tài chính và vật chất cho phe đối lập Serbia trong những năm cuối thập niên 90; trợ giúp phương diện truyền thông và đào tạo nhân viên giám sát bầu cử; cung cấp dầu để sưởi ấm cho người dân khu vực đô thị thuộc sự quản lý của phe đối lập. Nhưng cũng chính “những nhà dân chủ Tây Phương” này đã ủng hộ Milosevic trước khi hiệp ước hòa bình Dayton năm 1995 ở Bosnia được ký kết, và lệnh cấm vận kinh tế vào năm 1992 được ban hành. Điều này đã xóa bỏ tầng lớp trung lưu ở Serbia và cho phép Milosevic cùng lực lượng đồng minh trong hệ thống cảnh sát lẫn tội phạm có tổ chức nắm lại quyền kiểm soát. Các nhà ngoại giao Phương Tây tìm cách kiểm soát chặt chẽ phe đối lập Serbia, nhưng cũng vì thế mà khiến phe này trở nên phân tán. Do cách hành xử như thế, cộng đồng quốc tế là một thành tố khiến vấn đề nảy sinh trong suốt nhiều năm trời, thay vì tạo ra giải pháp. Và để sửa chữa điều đó phải tốn rất nhiều thời gian và công sức.
Mặt khác, ta không nên đánh giá thấp vai trò và nỗ lực đấu tranh dân chủ của Mỹ trên thế giới - với tư cách là siêu cường dân chủ hàng đầu. Bài học từ Serbia – theo Trung tâm Chiến lược Ứng dụng Bất bạo động (CANVAS) nhận thấy - là cần cố gắng tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài. Muốn cuộc cách mạng thành công, ta cần đưa những người nước ngoài, như các nhà ngoại giao hay “các chuyên gia” ra khỏi cuộc đấu tranh và không để họ tham gia vào quá trình đưa ra những quyết định quan trọng. Tuy nhiên kiến thức và kỹ thuật có thể hỗ trợ đáng kể, nhiều nhà hoạt động dân chủ trên khắp thế giới, trong đó có những người đến từ Georgia, Ukraine, Lebanon, và Maldives (những người đã thành công trong cuộc đấu tranh) cũng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm này với chúng tôi. Ngay cả phía đang tiến hành đấu tranh như Zimbabwe, Miến Điện, Iran, và Venezuela cũng vậy. Chúng tôi luôn dành cho họ lời khuyên là: Không có tình bằng hữu, mà chỉ có lợi ích khi chính phủ nước ngoài tham gia. Do đó, tranh thủ nhiều sự ủng hộ từ bên ngoài (kiến thức, tiền bạc) cho phong trào. Nhưng hãy thận trọng với những lời khuyên chính trị từ bên ngoài. Vì những cuộc cách mạng thành công đều đều được hình thành và tranh đấu bởi chính người dân nước đó.
Sau cách mạng, phong trào đã làm gì để chính quyền mới có tính trách nhiệm?
SP: Otpor đóng vai trò “quan sát viên” đặc biệt sau cách mạng. Otpor phát động hai chiến dịch quan trọng (Tháng Mười Một năm 2000 và mùa hè 2001) buộc chính quyền mới phải có tính trách nhiệm trong cải cách dân chủ và bài trừ tham nhũng. Hiếm ai biết được, Otpor đã vận động dư luận cho việc bắt giam cựu tổng thống Milosevic và giải y đến Tòa án Hague. Tên của chiến dịch là “HẮN CÓ TỘI!”, được khởi động từ tháng Ba và đầu tháng Tư trước khi ông ta bị bắt giam. Đây là thời điểm rất quan trọng vì Tân thủ tướng Serbia - Zoran Djindjic lúc đó hầu như đơn độc trong nhiệm vụ cấp bách ít phổ biến này. Tất cả những điều này chứng minh rằng, tự thân một cuộc cách mạng dân chủ hóa thật sự không đủ, mà đi theo sau đó, cần xây dựng năng lực và củng cố các khía cạnh dân chủ để đạt đến một xã hội dân chủ. Serbia may mắn đã đạt đến xã hội dân chủ, và nhiều lúc tôi nghĩ các quốc gia khác như Georgia có lẽ đang thiếu phần nào đó sự hỗ trợ hậu phong trào từ cả phía dẫn dắt phong trào lẫn các nước dân chủ khác trên thế giới.
Ý nghĩa của Otpor hiện nay trên thế giới là gì và ông thấy nó tồn tại như thế nào trên thế giới ngày nay?
SP: Otpor và cuộc cách mạng bất bạo động Serbia đã thật sự trở thành một thương hiệu mang tính toàn cầu. Ta có thể thấy những phong trào thành công tương tự ở Georgia (2003), Ukraine (2004), Lebanon (2006) và xa hơn là Maldives (2008), Ai Cập và Kenya. Ta cũng sẽ thấy các nhà sư Phật giáo đi đầu trong cuộc Cách mạng Vàng (Saffron Revolution) lấy cảm hứng từ bộ phim “Hạ bệ độc tài”. Ta sẽ thấy những phong trào dựa trên chiến lược tương tự ở Vennezuela và Việt Nam. Sách và phim được phân phát rộng rãi ở Cuba và Iran. Có vẻ như tư tưởng và mô hình “cách mạng bất bạo động” đã truyền cảm hứng cho nhiều người và trong số họ còn có những chiến thuật thông minh và sáng tạo hơn, một phần cũng nhờ bộ phim trên; bộ sách ”Cuộc đấu tranh bất bạo động: 50 điểm cốt yếu”, và phần nhiều là nhờ vào lòng can đảm và quan tâm của các nhà hoạt động dân chủ ở các quốc gia trên thế giới. Điều này khiến chúng tôi tự hào, vì chúng tôi tin rằng, mỗi người dù nam hay nữ trên thế giới này đều có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ.
- Nguồn: How We Brought Down a Dictator


0 nhận xét:
Đăng nhận xét